Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

QUÁ TRÌNH TRUYỀN DỊCH & HOẰNG DƯƠNG LUẬT ĐIỂN ĐẠI TIỂU THỪA Ở TRUNG QUỐC

QUÁ TRÌNH TRUYỀN DỊCH & HOẰNG DƯƠNG  LUẬT ĐIỂN ĐẠI TIỂU THỪA Ở TRUNG QUỐC
TN.Như Lộc
Sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn tại rừng Ta La Song Thọ ở nước Câu Thi Na, vừa làm lễ trà tỳ xong, ngài Đại Ca Diếp liền triệu tập 500 vị La hán tại hang Thất Diệp để kiết tập Kinh Luật, sử Phật giáo gọi là Ngũ bách kiết tập. Trong kỳ kiết tập này, ngài Đại Ca Diếp ở ngôi chủ tọa, ngài A Nan kiết tập tạng Kinh, ngài Ưu Ba Ly kiết tập tạng Luật, tụng lại lời Như Lai đã chế chỉ trải qua 80 lần mới tụng xong, nên sử Phật giáo gọi là Bát thập tụng luật.
Phật nhập diệt trải qua khoảng hơn 100 năm sau, do sự bất đồng ý kiến về việc thọ trì giới luật giữa nhóm Tỳ kheo trẻ ở Bạt Kỳ và nhóm trưởng lão Tỳ kheo, nên giáo đoàn đệ tử Phật quyết định tổ chức cuộc kiết tập lần 2, có tất cả 700 vị La hán tham dự nên sử Phật giáo gọi là Thất bách kiết tập. Mục đích của lần kiết tập này là giải quyết sự bất đồng trong việc thọ trì giới luật, nhưng kết quả lại không giải quyết được gì, nên sau cuộc kiết tập lần 2 này, giáo đoàn đệ tử Phật chia làm 2 bộ phái:
1. Đại chúng bộ: Gồm những Tỳ kheo trẻ có tư tưởng cấp tiến muốn thay đổi một số giới điều sao cho hợp với xu thế đương thời. Do số lượng Tỳ kheo trẻ đông nên từ đó đặt thành tên, gọi là Đại chúng bộ, cũng gọi là Ma Ha Tăng Kỳ. Trải qua một thời gian sau, do sự thấy nghe hiểu biết có cạn sâu rộng hẹp sai khác và ai cũng cố chấp sự thấy nghe hiểu biết của mình, nên từ Đại chúng bộ căn bản lại phân xuất làm 8 bộ phái, tổng cộng trước sau có 9 bộ.
2. Thượng tọa bộ: Gồm những vị trưởng lão chủ trương bảo thủ duy trì lời Phật dạy, không muốn thay đổi. Do số lượng ít và đều là bậc thượng tọa trưởng lão nên từ đó đặt thành tên gọi là Thượng tọa bộ. Trải qua một thời gian sau, cũng do sự thấy nghe hiểu biết có cạn sâu rộng hẹp sai khác và ai cũng cố chấp sự thấy nghe hiểu biết của mình, nên từ Thượng tọa bộ căn bản lại phân xuất làm 10 bộ phái, tổng cộng trước sau có 11 bộ.
Như vậy cả 2 bộ phái Đại chúng và Thượng tọa trước sau có tất cả 20 bộ phái, tùy theo giải hạnh của mỗi bộ mà trong giới luật cũng phân thành 20 bộ loại. Tuy nhiên chỉ có 6 bộ phái với 6 bộ luật là được phiên dịch từ văn Phạn sang văn Hán trải qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
1. Tát Bà Đa bộ: cũng gọi là Hữu bộ, gọi đủ là Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, dùng luật Thập tụng làm căn bản, đời Dao Tần ngài Phất Nhã Đa La và ngài La Thập dịch sang văn Hán.
2. Tân Tát Bà Đa bộ: cũng gọi là Căn Bản Hữu bộ, gọi đủ là Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ. Tất cả luật điển thuộc bộ phái này đến đời Đường ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh dịch sang văn Hán.
3. Di Sa Tắc bộ: cũng gọi là Hóa Địa bộ, dùng luật Ngũ phần làm căn bản. Đời Lưu Tống thuộc Nam triều, ngài Phật Đà Thập và ngài Trúc Đạo Sanh phiên dịch sang văn Hán.
4. Đàm Vô Đức bộ: cũng gọi là Pháp Tạng bộ, dùng luật Tứ phần làm căn bản. Đời Dao Tần ngài Phật Đà Da Xá và ngài Trúc Phật Niệm dịch sang văn Hán.
5. Ca Diếp Di bộ: cũng gọi là Ẩm Quang bộ, dùng luật Giải thoát làm căn bản. Đời Nguyên Ngụy thuộc Bắc triều, ngài Bát Nhãn Lưu Chi dịch Giải Thoát Giới kinh sang văn Hán.
6. Đại chúng bộ: cũng gọi là Ma Ha Tăng Kỳ, dùng luật Ma Ha Tăng Kỳ làm căn bản. Đời Đông Tấn, ngài Phật Đà Bạt Đà La và ngài Pháp Hiển dịch sang văn Hán.
Trong 6 bộ luật căn bản của 6 bộ phái này, chỉ có 4 bộ luật căn bản của 4 bộ phái là được truyền dịch phổ biến ở Trung Quốc, đó là: luật Thập tụng của Tát Bà Đa bộ, luật Ngũ phần của Di Sa Tắc bộ, luật Tứ phần của Đàm Vô Đức bộ và luật Ma Ha Tăng Kỳ của Đại chúng bộ.
Phật pháp bắt đầu truyền qua Trung Quốc vào đời vua Hán Hoàn Đế nhà Đông Hán, do ngài An Thế Cao người nước An Tức đến Trung Quốc trú ở Lạc Dương dịch kinh, phần nhiều thuộc về kinh điển Tiểu thừa, trong số đó có một số ít thuộc về luật điển Tiểu thừa như:
- Phật thuyết phạm giới tội báo khinh trọng kinh - 1 quyển.
- Đại Tỳ kheo tam thiên oai nghi - 2 quyển.
- Phật thuyết Xá lợi Phất hối quá kinh - 2 quyển.
Mãi đến đời Tam Quốc (nhà Đông Hán diệt vong, Trung Quốc phân chia làm 3 nước là Ngụy, Thục và Ngô), tại nước Tào Ngụy đến đời vua Ngụy Phế Đế có ngài Đàm Ma Ca La người Trung Ấn đến Lạc Dương truyền dịch và hoằng dương giới luật. Vào thời đó ở Lạc Dương tuy đã có Phật pháp và tự viện, nhưng giới Tăng sĩ chỉ là tự cạo đầu đắp y tự xưng Sa môn, chớ chưa từng đăng đàn bạch tứ yết ma thành tựu đắc xứ sở Tỳ kheo. Cho nên việc đầu tiên phải làm là ngài Đàm Ma Ca La dịch bộ luật Tăng Kỳ giới tâm sang văn Hán cho các Tăng sĩ ở Lạc Dương biết phương hướng hành trì, sau đó cùng ngài Đàm Đế dịch luật Tứ phần Đàm Vô Đức yết ma sang văn Hán và tiến hành việc thỉnh mời 10 Sa môn từ Thiên Trúc đến Lạc Dương thiết lập 1 giới đàn như pháp như luật truyền trao giới pháp cho các Tăng sĩ ở Lạc Dương. Đây là giới đàn đầu tiên ở Trung Quốc và Sa môn Trung Quốc là Chu Sĩ Hành là người được truyền giới đầu tiên. Dưới đời Tào Ngụy còn có ngài Khương Tăng Khải dịch Tứ phần tạp yết ma.
Nhà Tấn thống nhất đất nước, dưới đời Tây Tấn, ngài Trúc Pháp Hộ cũng có dịch một số ít thuộc về luật điển sang văn Hán:
- Tỳ kheo ni giới - 1 quyển; - Giới cụ - 1 quyển; - Hối quá - 1 quyển; - Tam phẩm hối quá - 1 quyển.
Cuối đời Tây Tấn, Trung Quốc bước vào thời kỳ Ngũ Hồ loạn Hoa, do 5 bộ tộc lớn ở phương Bắc mà người Hán ở Trung nguyên gọi là rợ Hồ kéo quân sang xâm chiếm lãnh thổ Trung nguyên, trước sau thành lập 16 nước xưng đế ở Trung nguyên gồm có:
1. Nhị Triệu: Tiền Triệu và Hậu Triệu
2. Tam Tần: Tiền Tần (Phù Tần), Hậu Tần (Dao Tần) và Tây Tần.
3. Tứ Yến: Tiền Yến, Hậu Yến, Nam Yến và Bắc Yến.
4. Ngũ Lương: Tiền Lương, Hậu Lương, Tây Lương, Nam Lương và Bắc Lương.
Cộng với nước Hạ và nước Thành tổng cộng là 16 nước, nhưng chỉ có 5 nước: Tiền Triệu, Hậu Triệu, Tiền Tần, Hậu Tần và Bắc Lương là có Phật giáo. Tuy cả 5 nước này đều có Phật giáo, nhưng chỉ có dưới đời Tiền Tần, Hậu Tần và Bắc Lương mới có truyền dịch luật điển Đại Tiểu thừa.
- Dưới đời Tiền Tần, ngài Đàm Ma Trì và Trúc Phật Niệm dịch Thập Tụng Tỳ kheo - Tỳ kheo Ni giới bổn.
- Dưới đời Hậu Tần có:
+ Ngài Phất Nhã Đa La và ngài La Thập dịch quảng luật Thập Tụng.
+ Ngài Trúc Phật Niệm dịch Giới nhân duyên kinh.
+ Ngài Phật Đà Da Xá và ngài Trúc Phật Niệm dịch quảng luật Tứ phần.
+ Ngài Phật Đà Da Xá dịch luật Tứ phần giới bổn.
+ Ngài La Thập dịch Thanh tịnh Tỳ Ni phương quảng kinh, kinh Phạm Võng và Thọ Bồ tát giới nghi quỹ đều là luật điển Đại thừa được ngài truyền dịch đầu tiên ở Trung Quốc.
- Dưới đời Bắc Lương: ngài Đàm Vô Sấm truyền dịch Bồ tát giới bổn và là người truyền thọ giới Bồ tát đầu tiên ở Trung Quốc. Tương truyền trong thời gian ngài trú ở Lương Châu nước Bắc Lương, sau khi dịch xong giới bổn Bồ tát, có rất nhiều người đến xin ngài truyền thọ giới Bồ tát, trong số đó có Sa môn Đạo Tấn là người ai cầu tha thiết nhất, nhưng ngài vẫn không chịu truyền trao, chỉ bảo Sa môn Đạo Tấn phải trở về sám hối nghiệp chướng. Sa môn Đạo Tấn nghe lời trở về sám hối trong 7 ngày, qua ngày thứ 8 trở lại chưa kịp mở miệng đã bị ngài Đàm Vô Sấm xua đuổi bảo rằng chưa được. Sa môn Đạo Tấn đành phải trở về chí thành sám hối trong 3 năm, thành khẩn đến nỗi cảm được Phật Thích Ca và chư Bồ tát hiện thân xoa đầu và trao cho giới Bồ tát. Hôm sau khi Sa môn Đạo Tấn đến, vừa trông thấy ngài Đàm Vô Sấm đã vui vẻ nói: Ngươi đã đắc giới rồi, nay ta sẽ chứng minh cho ngươi. Nói xong ngài Đàm Vô Sấm ở trước tượng Phật giảng lại giới tướng Bồ tát cho Sa môn Đạo Tấn nghe. Từ đó về sau có hơn một ngàn người lần lượt đến chỗ ngài Đàm Vô Sấm cầu thọ giới Bồ tát. Ngoài Bồ tát giới bổn, ngài Đàm Vô Sấm còn dịch Bồ tát Địa trì và Bồ tát Ưu Bà Tắc giới văn.
Về luật điển Đại thừa Bồ tát giới có chia làm 2 hệ phiên dịch và chú sớ:
1. Hệ Phạm Võng Bồ tát giới có:
- Kinh Phạm Võng 2q, đời Dao Tần ngài La Thập dịch sang văn Hán
- Kinh Bồ tát Anh Lạc 1q, đời Dao Tần ngài Trúc Phật Niệm dịch
Về chú sớ kinh Phạm Võng có:
- Bồ tát giới nghĩa sớ 2q, đời Tùy ngài Trí Giả soạn
- Bồ tát giới sớ 5q, đời Đường ngài Pháp Tạng soạn
- Bồ tát giới sớ 3q, đời Đường ngài Nghĩa Tịnh soạn
Nội dung của giới Bồ tát thuộc hệ Phạm Võng có 10 giới trọng, tăng tục đều được thọ gọi là giới đốn lập.
2. Hệ Du già Bồ tát giới có:
- Bồ tát giới bổn 1q, đời Bắc Lương ngài Đàm Vô Sấm dịch
- Bồ tát giới bổn 1q, đời Đường ngài Huyền Trang dịch
- Bồ tát thiện giới kinh 1q, đời Nam triều - Lưu Tống ngài Cầu Na Bạt Ma dịch sang văn Hán.
Về chú sớ có Bồ tát giới bổn tiên yếu 1q, đời Minh ngài Trí Húc soạn. Nội dung của giới Bồ tát thuộc hệ Du già có 4 tha thắng xứ và lấy 3 tụ tịnh giới làm căn bản. Tuy cũng nhiếp cả tăng tục, nhưng lại nghiêng nặng về 7 chúng xuất gia, gọi là giới tiệm lập.
Đồng thời với 16 nước Ngũ Hồ ở phương Bắc thì ở phương Nam vẫn còn thuộc về nhà Đông Tấn, dưới đời Đông Tấn có ngài Phật Đà Bạt Đà La cùng ngài Pháp Hiển dịch quảng luật Ma Ha Tăng Kỳ và Ma Ha tăng kỳ giới bổn.
Ở phương Nam sau khi nhà Đông Tấn diệt vong và ở phương Bắc nước Bắc Ngụy tiêu diệt nước Bắc Lương thống nhất ở phương Bắc thì Trung Quốc bước vào thời kỳ Nam Bắc triều. Dưới thời Nam Bắc triều, các nước Nam triều Lương, Nam triều Trần, các vua như Lương Võ Đế, Trần Văn Đế đều thọ Bồ tát giới và phong trào thọ Bồ tát giới thịnh hành từ đó.
- Dưới đời Nam triều Lưu Tống có:
+ Ngài Phật Đà Thập và ngài Trúc Đạo Sanh dịch Di Sa Tắc Ngũ phần quảng luật
+ Ngài Phật Đà Thập dịch Ngũ phần giới bổn
+ Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch Bồ tát giới địa, Tứ phần luật yết ma và Ưu Bà Tắc giới kinh.
+ Ngài Tăng già Bạt Ma dịch Tát Bà Đa Tỳ ni Ma Đắc Lặc Già và Ưu Ba Ly vấn kinh.
- Dưới đời Nam triều Tiêu Tề, ngài Tăng già Bạt Ma dịch Thiện kiến luật tỳ bà sa.
Dưới đời Nam truyền Trần có ngài Chân đế dịch Nhị thập nhị Minh Liễu luận. Nhà Tùy sau khi thống nhất Nam Bắc triều, vua Tùy Dưỡng đế trước khi lên ngôi cũng thọ giới Bồ tát nơi Đại sư Trí Giả. Ngài Trí Giả cũng có soạn Phạm Võng Bồ tát giới kinh nghĩa sớ, ngài Xà Na Quật Đa dịch Đại thừa tam tụ sám hối kinh.
Nhà Đường tiêu diệt nhà Tùy, dưới đời Đường các luật sư nối tiếp nhau sớ giải luật Tứ phần và ra sức hoằng dương, khiến cho luật tông phát triển đa dạng. Có tất cả 3 tông chuyên hoằng dương luật Tứ phần ví như 3 cái chân vạc, mỗi tông đứng về một khía cạnh khác nhau để sớ giải luật Tứ phần:
1. Tướng Bộ tông: do ngài Pháp Lệ khai sáng, ngài y cứ theo luận Thành Thật để lập luật nghĩa và soạn luật sớ. Có 3 bộ luật sớ làm căn bản cho tông Tướng Bộ, đó là Tứ phần luật sớ 10q, Yết ma sớ 3q và Xả sám nghi khinh trọng sự 1q.
2. Nam Sơn tông: do ngài Đạo Tuyên khai sáng, ngài chủ trương hình thức của luật Tứ phần tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung thuộc về Đại thừa. Mục đích để dung hòa luật Tiểu thừa vào Đại thừa, ngài lấy diệu lý nhất thừa làm chỉ thú để lập luật nghĩa và soạn luật sớ. Có 5 bộ luật sớ làm căn bản cho luật tông Nam Sơn gọi là Ngũ Đại bộ Nam Sơn luật tông, đó là:
- Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ
- Tứ phần luật san phiền bổ khuyết Hành sự sao
- Tứ phần luật Thập tỳ ni nghĩa sao
- Tứ phần Phật Hàm chú giới bổn sớ
- Tứ phần luật tỳ kheo ni sao.
3. Đông Tháp tông: do ngài Hoài Tố khai sáng, ngài đứng trên lập trường của Nhất thiết Hữu bộ, y cứ theo luận Đại tỳ bà sa và luận Câu Xá để lập luật nghĩa và soạn luật sớ, ngài soạn Tứ phần luật khai tông ký 20q làm căn bản cho tông Đông Tháp. Trong bộ sớ này, ngài nêu lên những chỗ sai lầm trong luật sớ của ngài Pháp Lệ thuộc tông Tướng Bộ, nên người đương thời gọi luật sớ của ngài Hoài Tố là Tân sớ, còn luật sớ của ngài Pháp Lệ là Cựu sớ. Ngoài bộ luật sớ trên ngài Hoài Tố còn dịch:
- Tứ phần luật tỳ kheo giới bổn
- Tứ phần luật tỳ kheo ni giới bổn
- Tứ phần luật tăng yết ma.
Đến cuối đời Đường thì chỉ còn 1 luật tông Nam Sơn là chiếm địa vị độc tôn trong sự hoằng dương luật Tứ phần mãi cho đến các triều đại sau này. Ngoài các luật sớ của các luật sư khai tông nói trên, ngài Huyền Trang cũng có dịch luật Du già Bồ tát giới bổn và ngài Pháp Tạng soạn Phạm Võng Bồ tát giới sớ, ngài Nghĩa Tịnh soạn Phạm Võng Bồ tát giới sớ và dịch hầu hết những bộ luật thuộc về Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ.
Từ đây trở về sau này các đệ tử truyền thừa của tông Nam Sơn cũng viết nhiều luật sớ và ra sức hoằng dương luật Tứ phần. Dưới đời Minh, các ngài Vân Thê, Ngẫu Ích tuy là tổ của tông Tinh Độ cũng viết nhiều luật sớ để xiển dương Thiền giáo luật đều quy về Tịnh độ, trong đó giới luật là nền tảng. Cuối đời Minh, có các ngài Hoằng Tán, ngài Tam Muội... đều ra sức phục hưng giới luật, ngài Tam Muội tuy là đệ tử truyền thừa đời thứ 14 của luật tông Nam Sơn nhưng ngài xem trọng kinh Phạm Võng hơn luật Tứ phần, soạn Phạm Võng kinh trực giải 4q để hoằng truyền. Đệ tử của ngài Tam Muội là ngài Kiến Nguyệt kế thừa sự nghiệp của thầy tại núi Bảo Hoa, tuy cũng giảng kinh Phạm Võng nhưng lại soạn nhiều luật sớ về luật Tứ phần để chấn hưng luật tông Nam Sơn vào đời Thanh. Cho nên chùa Long Xương trên núi Bảo Hoa đến đời ngài Kiến Nguyệt không những là nơi tổ chức đại giới đàn cho giới tử thập phương quy tụ về thọ giới pháp, mà còn là nơi có khuôn phép mẫu mực cho sự truyền giới vào đầu đời Thanh. Bởi vì cuối đời Minh đầu đời nhà Thanh luật tông suy vi, nếu ngài Kiến Nguyệt không ra sức chấn hưng luật tông Nam Sơn và bản thân không làm mô phạm cho người học giới thì luật tông suy vi không thể nào cứu vãn nổi. Cho nên người đương thời đều ca tụng ngài là Đạo Tuyên luật sư tái thế. Cho đến cuối đời nhà Thanh bước qua thời cận đại vẫn có nhiều vị với tâm nguyện phục hưng giới luật nên cũng đã viết nhiều sớ giải về luật Tứ phần như ngài Từ Chu, ngài Hoằng Nhất. Bởi vì đối với người xuất gia, tỳ ni là thọ mạng của Chánh pháp, tạng tỳ ni còn thì Phật pháp còn, Chánh pháp mới tồn tại lâu dài.

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Sự hình thành và phát triển Phật giáo ở Trung Hoa



Sự hình thành và phát triển Phật giáo ở Trung Hoa
Xem hình

Vào thế kỷ thứ ba trước công nguyên, vua A Dục đã gởi những sứ giả đến miền Đông Bắc Ấn Độ, thuộc vùng Pakistan và Afghanistan ngày nay. Sứ mệnh này đã được hoàn thành xuất sắc và Phật giáo trở thành trung tâm của việc học tập cho nhà sư và các học giả lỗi lạc. Khi những thương gia ở Trung Á đến vùng đất tôn giáo này buôn bán, họ đã tiếp thu được Phật giáo và chấp nhận đó là tôn giáo của họ. Cho đến trước thế kỷ thứ hai trước công nguyên, một số thành phố của Trung Á như Kotan đã trở thành những trung tâm quan trọng của Phật giáo . Người Trung Hoa đã tiếp xúc với Phật giáo lần đầu tiên thông qua những người Trung Á đã hiểu biết về Phật pháp.



Khi nhà Hán của Trung Hoa mở rộng quyền lực về phía trung Á vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, việc giao thương và kết nối văn hóa giữa Trung Hoa và Trung Á được nâng cao. Bằng cách này, người Trung Hoa đã học tập được Phật giáo để đến giữa thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, cộng đồng Phật tử người Trung Hoa đã hình thành. Với sự quan tâm đến Phật giáo ngày càng tăng nên sự đòi hỏi về kinh sách Phật giáo được dịch từ tiếng Ấn Độ sang Trung Hoa càng lớn. Danh nhân đầu tiên là An Thế Cao (Anshigao) từ Trung Á đến Trung Hoa vào giữa thế kỷ thứ hai. Với sự phát triễn của việc thu thập kinh điển dịch thuật bằng tiếng Hoa, Phật giáo bắt đầu được biết đến rộng rãi và một tu viện Trung Hoa đã được hình thành. Nhà sư người Trung Hoa đầu tiên chính là đệ tử của An Thế Cao (Anghigao). 

Những nhà dịch giả đầu tiên cảm thấy khó khăn khi tìm kiếm từ ngữ đúng đắn để giải thích các khái niệm Phật giáo bằng tiếng Hoa nên họ thường dùng những thuật ngữ của Lão giáo trong việc dịch thuật. Kết quả là mọi người bắt đầu liên hệ Phật giáo với sự tồn tại của Lão giáo truyền thống. Chỉ đến sau này người Trung Hoa mới hiểu được tường tận lời Đức Phật dạy.


Sau khi nhà Hán suy vong vào đầu thế kỷ thứ ba, Trung Hoa đối mặt với sự phân chia chính trị. Mặc dù chiến tranh và bạo loạn, việc dịch thuật kinh điển vẫn tiếp tục phát triễn.Trong suốt thời gian này, các nhà sư hải ngoại và Trung Hoa tích cực thiết lập nên những tu viện và các nhà sư Trung Hoa cũng tích cực trong việc tái thiết tu viện và giảng dạy Phật giáo.


Trong số những nhà sư Trung Hoa, Đạo An (Dao-an), sống vào thế kỷ thứ tư là nhà sư nổi tiếng nhất. Mặc dù Ngài phải đi chuyển thường xuyên vì những xung đột chính trị, Ngài không chỉ viết và giảng dạy Phật giáo sâu rộng mà còn phân loại chúng ra nữa. Ngài đã mời nhà dịch giả nổi tiếng Cưu Ma La Thập(Kumarajiva) từ Kucha đến giúp sức. Với sự giúp đỡ của các đệ tử Ngài Đạo An, Cưu Ma La Thập đã dịch ra rất nhiều kinh điển quan trọng và chỉnh sửa những bản dịch trước đó. Những tác phẩm dịch thuật của Ngài hiện vẫn được sử dụng cho đến ngày này. Bởi vì những căng thẳng chính trị không ngừng nghĩ, các đệ tử của Ngài Cưu Ma La Thập bị phân tán sau đó và nhờ vậy đã giúp cho sự lan truyền Phật giáo đến các vùng khác nhau của Trung Hoa.

Sự hình thành Phật giáo ở Trung Hoa

Từ thế kỷ thứ năm cho đến cuối thế kỷ thứ sáu, Bắc và Nam Trung Hoa nằm dưới sự phân chia luật lệ khác nhau. Miền nam vẫn nằm dưới sự cai trị của các triều đại bản địa trong khi miền Bắc nằm dưới sự cai trị của những kẻ ngoại bang không phải người Hoa.  Phật tử ở miền Nam tiếp tục dịch kinh sách và giảng dạy cũng như viết tham luận về các bộ kinh trọng điểm. Những nhà cầm quyền ở đây là những Phật tử  rất mộ đạo giúp xây dựng nên rất nhiều chùa chiền, tham gia vào các nghi lễ Phật giáo và tổ chức các buổi pháp thoại về Phật giáo cho công chúng.


Ở miền Bắc, trừ hai giai đoạn ngắn ngủi bị đàn áp, Phật giáo phát triễn rực rỡ dưới sự bảo hộ của những bậc đế vương hoang phí yêu thích Phật giáo. Đến cuối nữa thế kỷ thứ sáu, các nhà sư được mời vào bộ máy chính quyền. Trong thời gian nay, nghệ thuật Phật giáo vô cùng thịnh vượng đặc biệt là trong các hang động ở Thành Đôn,  Vân Cương và Long Môn.


Trong hàng ngàn hang đá ở Thành Đôn, các bức tranh Phật giáo bao phủ các bức tường và có hàng ngàn tượng Phật bên trong các hang động. Ở Vân Cương và Long Môn, rất nhiều hình ảnh Đức Phật với nhiều kích cỡ khác nhau đã được chạm khắc trên các tảng đá. Tất cả các hoạt động trên là dấu hiệu chứng tỏ sự thiết lập của Phật giáo ở Trung Hoa vào cuối giai đoạn này.

Sự phát triển của các trường phái Phật giáo


Với sự lớn mạnh của triều đại nhà Tần vào đầu thế kỷ thứ bảy, Phật giáo càng được đến gần với công chúng hơn. Phật giáo nhanh chóng trở thành một bộ phận của văn hóa Trung Hoa và có ảnh hưởng đến nghệ thuật, văn học, điêu khắc, kiến trúc và triết học của đất nước Trung Hoa thời bấy giờ. Sau đó, số lượng bản dịch kinh điển Phật giáo tăng lên không ngừng. Các Phật tử lại đương đầu với khó khăn trong việc mang những lời giảng của Đức Phật vào cuộc sống. Kết quả là nhiều trường phái Phật giáo hình thành và mỗi trường phái tập trung lên một số loại kinh sách chuyên biệt trong việc tu tập và thực hành. Trường phái Thiên Thai Tông (Tian-tai) phát triễn hệ thống những bài giảng dạy và tu tập dựa trên kinh Liên Hoa . Trường phái này cũng sắp xếp các kinh điển Phật giáo theo thứ bậc phù hợp với căn cơ của từng đối tượng người tu .


Các trường phái khác tập trung vào những lĩnh vực khác nhau của các lời Phật dạy . Hai trường phái đáng chú ý khác là Thiền Tông và Tịnh Độ Tông . Thiền Tông chú trọng vào việc thực tập thiền định và phương cách trực tiếp để kiểm soát bên trong tâm và đạt được giác ngộ . Tịnh Độ Trông chú trọng vào việc niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà . Việc tu tập dựa vào lời giảng rằng mọi người có thể được vãng sanh về cõi Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà nếu họ trì niệm danh hiệu Ngài một cách thành kính . Một khi đã được vãng sanh về cõi Tịnh Độ , hành giả xem như đã đạt được giải thoát dễ dàng . Bởi vì sự đơn giản của phương pháp tu tập, trường phái này trở nên phổ biến giữa các tầng lớp nhân dân ở Trung Hoa .

Những phát triễn khác của Phật giáo ở Trung Hoa




Vào giữa thế kỷ thứ chín, Phật giáo đối diện với sự chia cắt bởi sự cai trị của một hoàng đế theo Lão Giáo . Ông đã giảm số lượng tu viện, thu hồi đất chùa và bắt các tăng ni trở về với đời sống thế tục và phá hủy các hình ảnh của Đức Phật . Mặc dầu sự chia cắt chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nó đánh dấu sự kết thúc của một thời đại Phật giáo ở Trung Hoa .Theo sau sự phá hủy các tự viện và sự phân chia của các nhà sư lỗi lạc, số lượng các trường phái Phật giáo bị suy giảm . Chỉ có hai trường phái Phật giáo Thiền Tông và Tịnh Độ Tông vẫn tiếp tục tồn tại. Kết quả đã hình thành nên một dạng tu tập Phật giáo mới trong các tự viện . Ngoài việc thiền tập, các Phật giáo cũng niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà và học kinh điển . Đây là dạng tu tập Phật giáo vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay .


Cũng như tất cả các bài giảng và thực tập của Phật giáo được kết hợp dưới mái chùa, các cư sĩ cũng bắt đầu tu tập Phật giáo, Lão Giáo và Khổng giáo . Dần dần, những bài giảng của Khổng giáo trở nên có ưu thế ở các tòa án và các nhà chức trách, những người không ưa thích Phật giáo .


Phật giáo dần dần tiếp tục có một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống tâm linh của người Trung Hoa . Vào đầu thế kỷ thứ 20, đã có sự nổ lực hiện đại hóa và cải cách truyền thống để thu hút mọi người hơn . Một trong nhữngnhà cải cách nổi tiếng nhất là nhà sư Thái Hư (Tai-xu). Ngoài việc giới thiệu những cải cách trong cộng đồng các tự viện, Ngài cũng giới thiệu phương cách giáo dục của Tây phương bao gồm việc học tập những kiến thức thế tục và ngoại ngữ cho các Phật tử .


 Trong những năm 1960, dưới sự lãnh đạo của nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Phật giáo bị đàn áp . Rất nhiều tu viện đã bị đóng cửa và các tăng ni phải trở lại cuộc sống thế tục . Trong những năm gần đây, chính sách tự do tôn giáo đã được mở rộng hơn giúp cho việc phát triển nghiên cứu về Phật giáo được phổ biến hơn .
























Ánh Thái Dương dịch (Theo buddhanet)

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012

Tính Cách Nhân Bản Và Thực Tiễn Của Đạo Phật


PDF.
In
Email


Viết bởi Nguyễn Thế Đăng   
... Đạo Phật, với muôn ngàn hướng đi, không gì khác hơn là làm cho con người càng ngày càng thực hiện được tính người cao đẹp của mình, những điều Chân - Thiện - Mỹ đang tiềm tàng hột giống nơi tính người được thực hiện, và sự thực hiện trọn vẹn thì gọi là thành Phật. Đức Phật đã thực hiện tính người một cách trọn vẹn, trở nên con người lý tưởng (nói theo danh từ Phật giáo là trí huệ, vô ngã, vị tha), trở thành con người toàn thiện và toàn diện, được nói gọi là Bi - Trí - Dũng, hay là bậc Chí thiện, hay là bậc Trong sạch, bậc Vị tha, bậc Điều ngự...
Đạo Phật thực tiễn ngay trong chỗ thâm sâu nhất của nó là trí huệ. Đạo Phật cho rằng con người đau khổ không mãn nguyện không phải vì một đấng nào ban phát hạnh phúc hay khổ đau, không vì một hoàn cảnh bên ngoài nào, mà vì chính tâm thức con người. Con người không thấy đúng, không thấy được như thực, mà chỉ thấy theo vọng tưởng, thành kiến, tham chấp của mình. Từ đó phiền não, khổ đau nảy sanh. Cái thấy đúng (chánh kiến) là sự mở đầu cho con đường đi đến hạnh phúc chân thực. Vì thấy sai, từ đó suy nghĩ sai, sống sai, làm sai mà phiền não khổ đau tiếp diễn.

Tính Cách Nhân Bản Và Thực Tiễn Của Đạo Phật

Nguyễn Thế Đăng

Ngày nay, về phương diện đời sống vật chất, nhân loại đã tiến bộ rất nhiều. So với nửa thế kỷ trước đây thôi, có lẽ thế hệ cha ông chúng ta cũng không thể nào hình dung nổi sự tiến bộ về mặt vật chất của thời đại chúng ta. Thế nhưng về mặt tính người, phẩm giá con người, sự cao thượng, sĩ khí của con người (con người như là loài cao quý nhất trong vũ trụ, hơn cả loài Trời, theo quan niệm Phật giáo) thì hình như con người hiện đại không hơn thời trung cổ bao nhiêu, nếu không nói là kém hơn. Những vụ diệt chủng, tàn sát tập thể xảy ra ở Campuchia thời Pôn Pốt, ở Bosnia, ở Phi châu,... Nạn tội ác, phạm pháp không chừa một nước nào, kể cả thành phần ngây thơ nhất là trẻ em. Lực lượng cảnh sát bảo vệ trật tự trị an càng ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng,... Bởi thế, nhiều triết gia, trí thức Tây phương hiện đại cho rằng sự tiến bộ của nhân loại, nhìn một cách toàn diện, thực chất chỉ là ảo tưởng về sự tiến bộ.
Phải chăng trong sự hiện đại hóa của các nước tiên tiến, người ta vẫn chưa tìm ra cách nào để trả lại nhân tính cho con người, khi ở những nước có nền kỹ nghệ giải trí phim ảnh và ca nhạc đem lại số lợi nhuận xuất khẩu cao nhất, hình ảnh của các anh hùng phần đông là những con người tượng trưng cho bạo lực, hung hãn, vô nhân tính; và hình ảnh của người phụ nữ phần nhiều chỉ là những đối tượng khiêu gợi tình dục.
Đạo Phật, với muôn ngàn hướng đi, không gì khác hơn là làm cho con người càng ngày càng thực hiện được tính người cao đẹp của mình, những điều Chân - Thiện - Mỹ đang tiềm tàng hột giống nơi tính người được thực hiện, và sự thực hiện trọn vẹn thì gọi là thành Phật. Đức Phật đã thực hiện tính người một cách trọn vẹn, trở nên con người lý tưởng (nói theo danh từ Phật giáo là trí huệ, vô ngã, vị tha), trở thành con người toàn thiện và toàn diện, được nói gọi là Bi - Trí - Dũng, hay là bậc Chí thiện, hay là bậc Trong sạch, bậc Vị tha, bậc Điều ngự...
Tính nhân bản của đạo Phật là làm cho con người trở nên Người hơn, phát huy tất cả mọi tính người cao đẹp và thải trừ mọi bản năng thấp kém và hèn hạ (tham, sân, si, sát, đạo, dâm, vọng,...). Con đường thành Phật không gì khác hơn là con đường làm viên mãn những đức tính vốn đã tiềm ẩn yếu ớt nơi con người bình thường: trí sáng suốt, lòng nhân ái, sự ghét ác thích thiện, sự tự chế, sự kiên định, lòng hy sinh,... và xóa bỏ hẳn tất cả những gì làm cho con người bị ràng buộc, bị tha hóa, bị hạ thấp, bị trĩu nặng, bị mất phẩm cách của bản năng thú vật (tính ích kỷ, lòng ghen tỵ, sự giận dữ, sự si mê, sự tham lam chiếm đoạt mất hết lương tri,...). Cuộc đời này trở nên hỗn loạn khổ đau cũng vì những tính tiêu cực đó.
Tính nhân bản của đạo Phật là chống lại những gì làm hạ thấp con người và un đúc cho con người mọi đức tính cao đẹp để thực hiện trọn vẹn định mệnh và ý nghĩa làm người của nó: thoát khỏi mọi ràng buộc thấp kém để trở thành một mẫu mực chân thiện mỹ của vũ trụ, một mẫu mực của Trời và Người, bậc Thiên nhân sư. Bởi thế đạo Phật cho là thiện, là tốt những gì làm cho con người tiến hóa, hướng thượng, làm cho con người thực hiện được tính Người, tức là tính Phật; và xem là ác, là xấu tất cả những gì làm sa đọa, tha hóa con người, dù chúng đến từ đâu, dưới bất cứ hình thức nào.
Tính nhân bản của đạo Phật được đẩy đến cùng tột, khi không phân biệt con người bình thường (chúng sanh) và Phật: Phật là một chúng sanh ngộ, và chúng sanh là một người mê. Cũng một con người đó, mà mê là chúng sanh, ngộ là Phật.
Tính nhân bản của đạo Phật còn thể hiện ở một điểm quan trọng: không có một hình thức đời sống nào khác ngoài phận mệnh làm người, không có một thế giới nào khác ngoài trái đất này là tốt hơn cho con người trong việc thực hiện được định mệnh cao cả của mình; thực hiện trọn vẹn tính Người, tức là thực hiện Phật tánh. Trái với nhiều người lầm tưởng rằng đạo Phật là tiêu cực, coi thường kiếp sống con người, là chối bỏ thế giới này; ngược lại, đạo Phật đề cao cái cơ hội hiếm có là được làm người, đề cao hoàn cảnh môi trường đầy gai góc khó khăn, đầy ô trược là cõi Ta bà này vốn là nơi bùn lầy, nhưng là chỗ tốt nhất để mọc hoa sen.
Đạo Phật còn nhân bản, thực tiễn và rất hiện sinh ở chỗ không hứa hẹn, bắt buộc con người hy sinh hiện tại cho một thế giới vật chất hay tinh thần nào khác chỉ có trong sách vở hay trong tư tưởng ước vọng, mà đặt tất cả hy vọng, ước ao, đặt tất cả tiềm năng của ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai vào một khoảnh khắc hiện tiền này, chính trong một niệm hiện tiền này quyết định toàn bộ cuộc sống con người. Trong một khoảnh khắc hiện tại này có đầy đủ con đường đi lên hay con đường đi xuống, có giải thoát hay đau khổ, có toàn bộ sanh tử cũng như toàn bộ cái vốn thoát khỏi sanh tử, tức là Niết bàn. Đặt toàn bộ cuộc đời người vào trong một niệm, trong một niệm có tất cả vòng thập nhị nhân duyên khổ đau sanh tử cũng như có tất cả an lạc giải thoát, tính cách hiện sinh và thực tiễn ấy thật không đâu bằng đạo Phật.
Đạo Phật thực tiễn ngay trong chỗ thâm sâu nhất của nó là trí huệ. Đạo Phật cho rằng con người đau khổ không mãn nguyện không phải vì một đấng nào ban phát hạnh phúc hay khổ đau, không vì một hoàn cảnh bên ngoài nào, mà vì chính tâm thức con người. Con người không thấy đúng, không thấy được như thực, mà chỉ thấy theo vọng tưởng, thành kiến, tham chấp của mình. Từ đó phiền não, khổ đau nảy sanh. Cái thấy đúng (chánh kiến) là sự mở đầu cho con đường đi đến hạnh phúc chân thực. Vì thấy sai, từ đó suy nghĩ sai, sống sai, làm sai mà phiền não khổ đau tiếp diễn. Nguyên nhân của mọi phiền não khổ đau của con người và thế giới không gì khác hơn là thấy một cách méo mó, biết một cách sai lầm (vô minh) theo thành kiến, theo chủ quan, theo sự tham đắm riêng, ý muốn riêng của mình. Sự khổ đau do chính chúng ta, bằng cách tự điều chỉnh lại cái nhìn, cách sống của mình. Tóm lại, sự đau khổ chính là do sự bất toàn, sai lầm của con người. Vì thế, để thanh toán vĩnh viễn khổ đau, sợ hãi, bất an,... con người phải tiến đến chỗ hoàn thiện, nghĩa là tiến đến chỗ thành Phật. Chúng ta có thể tóm tắt đạo Phật là sự thấy đúng, sống đúng và hậu quả của việc sống đúng đó, tất nhiên là hạnh phúc.
Nêu lên một vài nhận xét trên, để thấy rằng, những vấn đề của nhân loại đã có, đang có và sẽ có đều là những vấn đề nằm tận nền tảng của thân phận con người. Ngày nào con người còn là người, chưa đến chỗ hoàn thiện, những vấn đề ấy sẽ tiếp tục nảy sanh dưới những hình thức khác, với những cách đặt tên khác. Dầu bề ngoài, nhân loại có tiến bộ đến đâu, những vấn đề căn bản vẫn đang còn đó, nếu không nói là nhiều hơn. Con đường của đạo Phật là sự tiến hóa đích thật của nhân loại, đưa con người đến chỗ hoàn thiện, và bởi đó, chấm dứt mọi vấn đề. Tất cả những vấn đề hổn mang chỉ chấm dứt, một khi con người bất toàn chấm dứt.

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

Sự khác nhau giữa bồ và vợ


Sự khác nhau giữa bồ và vợ

Đàn ông nào cũng có bồ hoặc vợ. Một số người có cả hai. Cùng là phụ nữ, nhưng bồ và vợ nhiều lúc cư xử khác nhau một cách lạ kỳ. Dưới đây, chúng tôi xin thống kê ra vài điểm để bạn đọc tiện so sánh và rút ra kinh nghiệm.

 

1. Bồ thích rủ ta đi chơi khuya. Vợ luôn bắt ta về sớm.

2. Vợ đưa ta về nhà bà ngoại. Bồ muốn đưa ta tới cửa hàng.

3. Bồ muốn ta mặc quần áo đẹp. Vợ muốn ta mặc quần áo bền.

4. Bồ thích ta mua quà. Vợ thích ta mua đồ dùng trong nhà.

5. Khi ta đưa thứ gì ra, vợ hỏi giá tiền, còn bồ hỏi bao giờ đưa món tiếp theo.

6. Đi du lịch xa, vợ mong ngày về, còn bồ sợ hãi ngày đó.

7. Vợ nhăn nhó khi thấy bạn của chồng. Bồ nhăn nhó khi ta giấu bạn.

8. Vợ dọa ly dị. Bồ dọa cưới.

9. Vợ chê ta ít tắm. Bồ chê ta phải tắm một mình.

10. Bồ thích đi xem phim. Vợ thích đi chợ.

11. Vợ lục ví ta. Còn bồ lục ví mình đưa cho ta thấy.

12. Khi ta bảo ta là một đàn ông vĩ đại, vợ không tin, còn bồ sẽ vờ tin.

13. Ngày lễ tình yêu, ta đi với vợ, còn bồ đi với ai chỉ có quỷ sứ biết.

14. Vợ khen ta khỏe mạnh, còn bồ khen ta đẹp trai.

15. Bồ đưa ta đi uống rượu. Còn vợ đưa đi uống thuốc.

16. Vợ hay nói về quá khứ, bồ hay nói về tương lai.

17. Khi cùng nhau chạy dưới mưa, bồ bảo như thế là lãng mạn. Vợ bảo như vậy là điên.

18. Vợ thích dậy sớm. Bồ thích dậy muộn.

19. Bồ thích lấy áo ta mặc. Vợ thích lấy áo ta đi giặt.

20. Vợ nhìn đường phố ban đêm nhăn nhó bảo là đông. Bồ nhìn và reo lên bảo là vui.

21. Khi ta bị bệnh, vợ mang cơm, còn bồ mang hoa.

22. Khi ta say, vợ nhăn nhó, còn bồ cùng say.

23. Vợ hay kể đêm qua có trộm định vô nhà. Bồ hay kể đêm đêm có chàng trai đi qua.

24. Ta gọi vợ là bà xã, ta gọi bồ là em yêu.

25. Ta khen vợ trẻ, còn bồ thì khen đẹp.

26. Đang đi với bồ nhìn thấy vợ ta quay đi. Đang đi với vợ nhìn thấy bồ ta cười bí hiểm.

27. Đi công tác xa, ta điện thoại bảo vợ: “Nhớ khóa cửa nhà”, còn điện thoại bảo bồ: “Nhớ đi ngủ sớm”.

28. Với bồ ta không tiếc tiền. Với vợ ta không tiếc thân thể.

29. Bồ thích chó con hoặc mèo con. Vợ thích gà vịt đã làm sẵn.

30. Xem phim, vợ khóc khi thấy những cảnh đói khổ. Còn bồ khóc khi thấy các cảnh chia tay.

31. Bồ hay nói về tình yêu. Vợ hay nói về cuộc sống.

32. Bồ nhí nhảnh. Vợ đường bệ.

33. Vợ nói yêu ta vì ta đứng đắn. Bồ nói yêu ta do ta hấp dẫn.

34. Ta và vợ kỷ niệm ngày cưới, ta và bồ kỷ niệm ngày làm quen.

35. Ta hô to với vợ: “Anh yêu gia đình” và thì thầm với bồ: “Anh yêu em”.

Theo Lê Hoàng
Thanh Niên